LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay25 
 Hôm qua27
 Tuần này52 
 Tất cả55313 
IP: 54.162.181.75
 

KINH TẾ - XÃ HỘI
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2016
(Cập nhật: 24/03/2017)
 

Trong số các loại cây ăn quả cho thu hoạch thì cây vải chiếm tỷ trọng lớn nhất; sản lượng vải ước đạt 36.300 tấn, so với năm 2015 giảm 25%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước; tăng thấp hơn so với cùng thời điểm năm 2015.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng 5 là tập trung chăm sóc, khai thác triệt để các nguồn nước để tưới dưỡng cho lúa chiêm xuân, phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, đặc biệt bệnh đạo ôn, khô vằn, rầy nâu cho cây lúa, bệnh thán thư, sâu đục cuống quả vải; đồng thời tiếp tục chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ chiêm xuân 2016.

1.1. Trồng trọt

Đến ngày 15/5 cơ bản diện tích lúa chiêm xuân trỗ thoát, trà sớm đang vào trắc dự kiến cho thu hoạch vào trung tuần tháng 6. Theo báo cáo tiến độ sản xuất nông nghiệp của tỉnh, tính đến ngày 15 tháng 5 trên lúa chiêm xuân bị nhiễm sâu bệnh chủ yếu là nhiễm bệnh đạo ôn. Đến nay, toàn tỉnh đã gieo trồng được 1.052 ha rau màu vụ mùa, chủ yếu là rau lấy quả (dưa hấu 312 ha, dưa lê 165 ha, ớt trái ngọt 16 ha, cải các loại 58 ha....).

Để đảm bảo kế hoạch sản xuất vụ mùa 2016 và vụ đông 2016-2017, các địa phương, các cơ quan chuyên môn đang tăng cường chỉ đạo các biện pháp kỹ thuật chăm sóc để lúa xuân chín sớm, cho thu hoạch nhanh gọn, thực hiện phương châm " xanh nhà hơn già đồng", giải phóng đất để gieo cấy lúa mùa. Bố trí cơ cấu giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, cấy bằng mạ dược, gieo vãi để rút ngắn thời gian sinh trưởng của lúa, tăng tối đa diện tích mùa sớm để chủ động đất cho gieo trồng cây vụ đông.

Trong số các loại cây ăn quả cho thu hoạch thì cây vải có sản lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất, tập trung chủ yếu ở  huyện Thanh Hà và Thị xã Chí Linh; sản lượng vải ước đạt 36.300 tấn, so với năm 2015 giảm 25%.  Nguyên nhân làm cho sản lượng vải giảm so với năm trước chủ yếu là do những tháng đầu năm điều kiện thời tiết không thuận lợi đối với cây vải, nhất là trà vải muộn. Ngoài ra, tỷ lệ sâu bệnh hại vải năm nay cao hơn so với mọi năm, do thời tiết nóng ẩm vì nhiều ngày có mưa rào xen kẽ, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sản lượng vải năm nay giảm hơn so với năm 2015.

Năm 2016, tỉnh được Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) cấp thêm 9 mã vùng trồng vải xuất khẩu đi Mỹ, Australia và EU; so với năm trước, thêm mã vùng trồng vải sớm và vải u hồng để xuất khẩu. Đến nay tỉnh Hải Dương có tổng số 11 mô hình vải xuất khẩu với tổng diện tích hơn 111 ha.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 5 năm 2016, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không có dịch bệnh xảy ra. Các ngành chức năng của tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi; tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi phương pháp chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên đàn vật nuôi; thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng trại, kết hợp tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin. Chăn nuôi trang trại và gia trại phát triển nhanh, chăn nuôi nhỏ lẻ trong hộ dân cư giảm mạnh.

Tổng đàn trâu, đàn bò có xu hướng tăng nhẹ, chủ yếu tăng do nuôi trâu, bò thương phẩm. Tổng đàn lợn ước tăng 3,39% so với cùng kỳ năm 2015. Đàn lợn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân do giá thịt lợn hơi xuất chuồng luôn giữ ở mức khá cao và ổn định (từ đầu năm đến nay khoảng 46.000 - 52.000đ/kg), giá thức ăn chăn nuôi liên tục giảm nhẹ, người chăn nuôi có lãi nên chăn nuôi lợn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, nhiều hộ tiếp tục đầu tư tái đàn và mở rộng quy mô nuôi, tổng đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm trước.

Đàn gia cầm với lợi thế về thị trường tiêu thụ, công tác phòng trừ dịch bệnh có hiệu quả nên tương đối ổn định và phát triển, nhất là đàn gà. Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) ước đạt 9.670 nghìn con, tăng 3,42 % so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tăng cao nhất là đàn gà ước đạt 7.495 nghìn con, tăng 4,39 %. Bên cạnh đó, giá thịt gà hơi tương đối ổn định và cao hơn so với cùng kỳ năm trước từ 3.000 – 5.000 đồng/kg; hiệu quả kinh tế đạt khá, nên người chăn nuôi đã mạnh dạn đầu tư tái đàn và mở rộng quy mô nuôi.

1.3. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng. Hiện nay, toàn tỉnh đã trồng được gần 700 ngàn cây phân tán. Cây phân tán được trồng chủ yếu trong các khu công nghiệp, trường học,... tạo bóng mát và cảnh quan thiên nhiên.

1.4. Thuỷ sản

          Tình hình nuôi trồng thủy sản trong tháng 5 vẫn duy trì ổn định và phát triển khá trên các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và sản xuất giống thủy sản, công tác quản lý môi trường ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản được duy trì thường xuyên.

          Về công tác nuôi trồng, khai thác và sản xuất giống thủy sản: trong tháng 5, giá cả sản phẩm đầu ra tương đối ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, giá thức ăn có xu hướng giảm nhẹ, nên diện tích nuôi trồng sau khi thu hoạch xong các hộ tập trung tu sửa, nạo vét ao nuôi và thả giống nuôi vụ mới. Trong tháng thời tiết ấm, có mưa rào đầu mùa là điều kiện tốt cho sinh trưởng và phát triển của cá; vì vậy, việc thu hoạch cá thương phẩm và thả giống nuôi vụ mới không gặp khó khăn. Việc nuôi cá lồng trên sông vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển, với các chủng loại gống đa dạng như Diêu hồng, Rô phi đơn tính, Trắm cỏ, Cá chép nuôi giòn, cá Lăng... Số lồng nuôi cơ bản thu hoạch xong cá thương phẩm, các hộ đã thả giống nuôi vụ mới, đến nay các lồng nuôi đã cơ bản thả đủ lượng giống, cá sinh trưởng và phát triển tốt. Trong tháng, một số diện tích nuôi cá trắm cỏ bị bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh 20%; tuy nhiên, được sự quan tâm của các ngành, các cơ quan chức năng đến nay bệnh đã được khống chế kịp thời.

2. Công nghiệp

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

Môi trường kinh doanh năm 2016 đã có nhiều khởi sắc hơn. Việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương, xây dựng cộng đồng ASEAN đã mở ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp về thị trường xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu nguyên, vật liệu; đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hết sức khả quan đã làm tăng niềm tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 8,5%; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,3%; sản xuất và phân phối điện, khí dốt, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 8,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,3%; riêng công nghiệp khai khoáng giảm 16,7%. Nhìn chung, động lực tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp trong 5 tháng đầu năm chủ yếu ở một số ngành như: chế biến thực phẩm (thức ăn chăn nuôi +22,8%); sản xuất da (giày, dép bằng da +24,2%); sản phẩm từ khoáng phi kim loại (xi măng Portland +16,4%); sản xuất kim loại (sắt thép không hợp kim +31,7%; thanh, que nhôm ở dạng hình +30,9%); sản xuất xe có động cơ (xe có động cơ chở từ 5 người trở lên +16,9%; Bộ dây đánh lửa và bộ dây khác cho xe có động cơ +19,9%).

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đến hết tháng 5 ước đạt 3.940,3 tỷ đồng, bằng 91,1% so cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa 3.319,8 tỷ đồng, bằng 96,4%; thu qua hải quan 620,5 tỷ đồng, bằng 70,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15 tháng 5 ước đạt 5.087,4 tỷ đồng, bằng 53,4% dự toán năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 811,4 tỷ đồng, bằng 64,2%; chi thường xuyên 4.275,3 tỷ đồng, bằng 60,6%.

4. Thương mại, giá cả, dịch vụ

4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 5 tháng ước đạt  16.814 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực Nhà nước giảm 3,7%; tập thể tăng 9,6%; cá thể tăng 13,2%; tư nhân tăng 4,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 28,2%. Nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 5 tháng ước tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo ngành kinh tế, so với cùng kỳ năm trước doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng ước đạt  13.713,5 tỷ đồng, tăng 11,0%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 1.318,1 tỷ đồng, tăng 6,4%; doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 4,8 tỷ đồng, tăng 10,5%; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.777,8 tỷ đồng, tăng 8,8%.

 4.2. Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Trị giá hàng hóa xuất khẩu 5 tháng năm 2016 ước đạt 1.607 triệu USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ.

Trị giá hàng hóa nhập khẩu 5 tháng đầu năm ước đạt 1.356 triệu USD, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước.

4.3. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tháng này tăng 0,36% so với tháng trước; so với  tháng 12 năm trước tăng 2,17%; và so với bình quân cùng kỳ tăng 1,56%.

Nguyên nhân làm cho chỉ số tháng này tăng chủ yếu là do nhóm hàng lương thực, chủ yếu là các loại gạo tăng cao; nhóm thực phẩm tăng do một số mặt hàng thịt gia súc tươi sống tăng; nhóm xăng dầu tăng do ảnh hưởng của hai đợt điều chỉnh giá xăng dầu ngày 20/4 và 05/5 đã làm cho giá xăng dầu bình quân tăng tương ứng (xăng tăng bình quân 679 đ/lít; dầu diezen tăng 702 đồng/lít, dầu hỏa tăng 202 đồng/lít).

Bên cạnh đó, giá ga đun cũng được điều chỉnh tăng giá từ 01/5, tăng bình quân 5-6 ngàn đồng/bình 12kg.

4.4. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận chuyển hành khách 5 tháng năm 2016 ước đạt 8,9 triệu hành khách, tăng 8,6% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 526,9 triệu hành khách.Km, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, toàn bộ rơi vào khu vực ngoài nhà nước.

Vận chuyển hàng hóa 5 tháng năm nay ước đạt xấp xỉ 25,2 triệu tấn, tăng 8,2%; luân chuyển đạt 1.767,9 triệu tấn.Km, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: đường bộ ước đạt 13,5 triệu tấn, chiếm 53,8% và tăng 8,7% (luân chuyển chiếm 30,4% và tăng 9,3%); đường sông ước đạt 11,3 triệu tấn, chiếm 45,0% và tăng 7,7% (luân chuyển chiếm 60,7% và tăng 8,1%); đường biển đạt 0,3 triệu tấn, chiếm 1,2% và tăng 5,3% (luân chuyển chiếm 8,9% và tăng 5,5%)./.

 
Các bài liên quan
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2016 tỉnh Hải Dương (24/03/2017)
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 tỉnh Hải Dương (20/03/2017)
 
Quay lạiXem tiếp